IC-dac-thu-nganh-min.pngTổng quan ngành 

Gạch ốp lát là dòng sản phẩm silicat, nằm trong nhóm vật liệu xây dựng hoàn thiện, gồm ba sản phẩm chính là gạch đất sét nung (Cotto), gạch tráng men (Ceramic) và gạch xương bán sứ (Porcelain, hay thường gọi là granite tại thị trường Việt Nam). Sản phẩm ngành chủ yếu phục vụ tiêu thụ trong nước với tỉ lệ xuất khẩu khoảng 10% – 20% công suất trong nước. Trong năm 2017, kim ngạch xuất khẩu gạch ốp lát đạt 350 triệu USD, chiếm 21% tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu vật liệu xây dựng.

Ngành gạch ốp lát thế giới có mức độ tập trung khá cao khi top 10 quốc gia dẫn đầu trung bình chiếm tới 82% tổng sản lượng sản xuất. Trong đó, Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu cả về sản xuất và tiêu thụ gạch ốp lát với gần 50% cơ cấu sản lượng thế giới. Tây Ban Nha và Ý là hai quốc gia tập trung mạnh vào xuất khẩu với tỉ lệ trên tổng sản lượng sản xuất cao nhất thế giới gần 80%.

Việt Nam nằm trong số những nhà sản xuất và tiêu thụ gạch ốp lát lớn nhất thế giới và đang trong giai đoạn quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ gạch tráng men sang xương bán sứ. Năm 2017, sản xuất và tiêu dùng gạch ốp lát trong nước lần lượt đạt đạt 560 triệu (+15,5% yoy) và 580 triệu m2 (+40,8% yoy) trong năm 2017. Với cơ cấu 4,1% và 4,4% sản lượng sản xuất và tiêu thụ toàn cầu, Việt Nam đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin.

Bên cạnh các doanh nghiệp chuyên sản xuất gạch lát lâu năm như: Viglacera, Hoàng Gia, Đồng Tâm, Thạch Bàn, Thiên Hà còn có nhiều đơn vị tham gia với vốn đầu tư nước ngoài như: Bạch Mã, Taicera, Prime… đều có khả năng cho ra thị trường sản lượng gạch vô cùng lớn.

Chuỗi giá trị ngành gạch ốp là:

Ngành gạch ốp lát thế giới đang trong giai đoạn tái tổ chức, tiến dần tới bão hòa:

Sang thế kỉ 21, chu kì ngành bước vào giai đoạn tái tổ chức. Sản lượng gạch ốp lát thế giới đạt tốc độ tăng trưởng kép trung bình 5,5% cho từng giai đoạn 5 năm. Con số này thấp hơn nhiều so với 20% của giai đoạn 1990 – 1995. Cùng với đó, xuất hiện xu hướng chuyển dịch tỉ trọng sản xuất từ châu Âu và châu Mỹ sang các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và Việt Nam. Trong khi các nước châu Âu đẩy mạnh phát triển theo chiều sâu, liên tục cải tiến công nghệ, tăng mạnh giá trị gia tăng trên sản phẩm nhằm xuất khẩu, các nước châu Á tập trung đầu tư công suất lớn với công nghệ chạy theo sau châu Âu từ 2 đến 3 năm.

Hoạt động xây dựng tại khu vực châu Á chậm lại sau khoảng thời gian bùng nổ cùng sự đa dạng vật liệu thay thế dự báo khiến sản lượng sản xuất và tiêu thụ gạch ốp lát thế giới chỉ tăng nhẹ khoảng 3% trong thời gian tới.

Xu hướng công nghệ mới trong sản xuất gạch ốp lát với xu thế máy ép lực cao hình và máy in kỹ thuật số:

Từ các nguyên liệu đất sét, tràng thạch, cát, dolomit & cao lanh; phối liệu gạch được nghiền mịn, ép bán khô hoặc khô và nung kết nối ở nhiệt độ cao. Kết cấu gạch ốp lát gòm 3 phần chính: phần xương để chịu lực, lớp men lót trung gian và lớp men màu thẩm mĩ tạo hoa văn. Hiện nay, công nghệ trong sản xuất gạch ốp lát có thể được chia theo số lần nung: nung nhanh một lần, nung hai lần và nung ba lần. Công nghệ nung ba lần tiên tiến nhất nhưng ít phổ biến, hiện chỉ có Prime sử dụng công nghệ này. Xu hướng tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu cũng khiến nung hai lần ít được sử dụng. Do vậy, công nghệ nung một lần là lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp gạch ốp lát tại Việt Nam.

Gạch ốp lát được sản xuất là phục vụ chính cho ngành xây dựng. Vì vậy, muốn sản lượng gạch ốp lát được tiêu thụ nhanh chóng thì đòi hỏi ngành xây dựng phải có tốc độ tăng trưởng vượt trội.

Các yếu tố quyết định mức tăng trưởng của ngành xây dựng như: vốn đầu tư FDI vào BDS, tốc độ đô thị hóa, lãi suất cho vay và lạm phát…

Nhìn chung, thị trường BĐS đã có những khởi sắc từ cuối năm 2014, điều này sẽ tạo nên một sự kỳ vọng lớn lao rằng ngành sản xuất các loại vật liệu xây dựng như: gạch lát vỉa hè, gạch ốp tường… có cơ hội bùng phát mạnh mẽ.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận những khó khăn trong thời gian tới với thị trường gạch ốp lát Việt Nam:

  • Giữ vững vị thế là quốc gia sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu gạch ốp lát lớn nhất thế giới.
  • Mức độ cạnh tranh của lĩnh vực này sắp tới, đặc biệt ở phân khúc gạch ceramic giữa các đơn vị phân phối trong và ngoài nước.
  • Do vậy, biện pháp cần đặt ra là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối gạch xây dựng nói chúng và gạch ốp lát nói riêng phải có các mục tiêu chiến lược riêng, có sự liên kết chặt chẽ với các chuyên gia tư vấn – thiết kế, thi công – sản xuất, kinh doanh gạch ốp lát để nâng cao năng lực cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.
  • Với đặc thù là doanh nghiệp sản xuất lớn, gồm nhiều nhà máy, công ty con do vậy số lượng nhân viên lớn nên việc quản lý tốt nhân sự để đảm bảo guồng quay cho sản xuất kinh doanh là một bài toàn khó cần hệ thống ERP để giải quyết.
  • Thiếu quy trình tương tác giữa các bộ phận: Hiện tại các đơn vị vẫn làm việc theo thói quen và phụ thuộc vào trình độ của con người, kinh nghiệm đó chưa được đưa ra hệ thống tài liệu dưới dạng quy trình chuyên nghiệp hoặc còn nặng về mô tả và quy trình hành chính thiếu tính logic hệ thống.
  • Đội ngũ vận hành cấp trung trở xuống chưa hiểu rõ về quy trình tổng thể: Thường chỉ quan tâm và hiểu về quy trình của bộ phận và những việc mình đang làm trên quy trình đó, dẫn đến dữ liệu thường bị lặp lại nhiều nhưng lại thiếu tính liên kết giữa các phòng ban.

  • Thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu chung: Dữ liệu các bộ phận đang chưa có sự đồng bộ, thiếu tính liên kết và khả năng tự động hóa chưa cao.
  • Hệ thống tác nghiệp điều hành chưa tốt: Công tác lập kế hoạch, giao việc và giám sát tình trạng công việc giữa các bộ phận, cá nhân còn khá thụ động và phụ thuộc vào con người rất nhiều.
  • Giữa các Doanh nghiệp cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và giá cả cạnh tranh về nhân lực, bởi lẽ tri thức của Doanh nghiệp nằm trong con người. Hiện nay, các Doanh nghiệp gặp rất nhiều rủi ro về nhân sự, mất đi nhiều tri thức và kinh nghiệm do bị chảy máu chất xám. Rủi ro được giảm thiểu nếu thiết lập được một hệ thống, có thể thông qua hệ thống lưu trữ các tri thức, kinh nghiệm và phương pháp của các thế hệ nhân viên. Một hệ thống ERP hiệu quả có thể làm được điều đó.
  • Việc áp dụng công nghệ nhằm tăng năng suất lao động chưa cao: App đọc mã vạch, công nghệ AI trong công tác nhận diện sản phẩm lỗi, nhận diện khuôn mặt trong chấm công, theo dõi hành vi nhân sự,…
  • Khả năng đáp ứng thông tin còn chậm và thiếu chính xác:….

Khách hàng tiêu biểu